Welcome, Guest. Please login or register.

Login with username, password and session length

 
Advanced search

634 Posts in 214 Topics- by 56 Members - Latest Member: MagicOPromotion

July 24, 2014, 09:20:46 AM
VietEconomics CommunityLifestyle and communitiesLifestyleVăn hoá, nghệ thuậtCác loại hình nghệ thuật
Pages: [1]
Print
Author Topic: Các loại hình nghệ thuật  (Read 36671 times)
0 Members and 2 Guests are viewing this topic.
nhà quê
Global Moderator
Sr. Member
*****
Posts: 201

Topic starter

View Profile
« on: September 13, 2007, 11:36:21 PM »

 ĐẠI CƯƠNG VỀ NGHỆ THUẬT HỌC
- GIỚI THIỆU NHỮNG LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT CƠ BẢN
(Đại học An Giang)

Trước khi có 7 loại hình nghệ thuật cơ bản , kiến trúc đã xuất hiện như một ngành kĩ thuật kết hợp nghệ thuật tạo hình . Do đó , chúng tôi trình bày riêng loại hình kiến trúc mà không đưa vào danh sách nghệ thuật như một số khuynh hướng khác . Cho dù một công trình kiến trúc đẹp đẽ , tráng lệ tới đâu cũng phải coi kĩ thuật xây dựng là yếu tố quan trọng thứ nhất , sau đó mới tính tới yếu tố nghệ thuật tạo hình ( yếu tố thứ nhì ).

Theo trình tự xuất hiện trước sau , chúng tôi sẽ giới thiệu lần lượt bảy loại hình nghệ thuật cơ bản mà loài người đã sáng tạo trong suốt trường kì lịch sử của mình :

1.Điêu khắc
2.Hội họa
3.Âm nhạc
4.Múa
5.Văn chương
6.Sân khấu
7.Điện ảnh , còn gọi “ nghệ thuật thứ bảy “
( Loại hình nhiếp ảnh là dạng liên kết giữa nghệ thuật tạo hình và kĩ thuật , tiền thân của điện ảnh - chúng tôi chỉ giới thiệu sơ lược ).

KIẾN TRÚC  Architecture)
Ngày xưa , con người lấy hang động làm nhà ở ( cách đây khoảng từ 17 đến 30 ngàn năm về trước ) sau khi bỏ cuộc sống leo trèo cành cây , bắt đầu lao động và tự cải biến thành người .

Đến một lúc nào đó , hang động có sẵn của thiên nhiên không đủ chứa người , họ nghĩ tới việc tạo dựng nơi trú ẩn cho mình , lại còn dựng cả “nhà” cho thần linh nữa ( những ngôi đền thờ , tháp) để thuận tiện cầu xin thần linh phù hộ che chở .

Đó là những công trình kiến trúc đầu tiên , có thể chia ra hai loại :

- Loại thực dụng , như nhà ở , chuồng trại chăn nuôi thú vật …
- Loại thỏa mãn tinh thần như đền thờ , tháp .

Dần dần , hai nhu cầu đó hòa hợp với nhau trong một công trình kiến trúc , và ngôi nhà ở cũng phải được trình bày , trang trí đẹp để thỏa mãn cả tinh thần .

Ngày nay , chúng ta có thể thấy hai loại không gian kiến trúc như sau :

- Không gian sinh tồn thực dụng : nhà ở, bếp , cửa hàng , bãi bến xe tàu , nhà máy .v.v… , đó là mục đích thứ nhất . Còn mục đích thứ hai là trình bày đẹp theo những quan điểm thẩm mĩ khác nhau .
- Không gian sinh tồn tinh thần: bàn thờ tổ tiên , rạp hát , công viên , quảng trường , đền miếu nhà thờ , lăng mộ …

( Cả hai đều là không gian sinh tồn , không nên coi nhẹ không gian tinh thần mà cho rằng tinh thần chỉ là giải trí đơn thuần )

( Một số công trình kiến trúc không gian sinh tồn tinh thần rất nổi tiếng trên thế giới đã trở thành niềm tự hào của các dân tộc và của loài người như : Điện Pacthenon thờ thần Apollon ở Hi Lạp , nhà thờ Đức Bà Paris ở Pháp , đền thờ-lăng mộ Taj Mahal ở Aán Độ , tháp Eiffel ở Paris , pháo đài Brecht và cung điện Kremlin ở Nga , Nhà thờ lớn Hà Nội , nhà thờ Phát Diệm ( Ninh Bình ) , Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh . . . Mỗi đất nước đều tự hào về những công trình kiến trúc tiêu biểu của mình - đặc biệt là những công trình kiến trúc tinh thần ) .
Logged
nhà quê
Global Moderator
Sr. Member
*****
Posts: 201

Topic starter

View Profile
« Reply #1 on: September 13, 2007, 11:36:35 PM »

1 - ĐIÊU KHẮC : ( Sculpture )
1.1 - Khái niệm :
Nghệ thuật tạo hình ba chiều và hai chiều rưỡi

Từ xa xưa còn để lại những hình khắc trong hang động , trên những công cụ bằng đá , đồ gốm , đồ đồng và những bức tượng thô sơ .Đó là những tác phẩm điêu khắc đầu tiên .

Tác phẩm điêu khắc chủ yếu mang giá trị tinh thần , dùng để trang trí , xem ngắm , để tưởng nhớ , tưởng niệm người , vật đã mất . Tác phẩm điêu khắc còn thể hiện một niềm tin hướng về như tượng thần linh và những hình ảnh thiên nhiên kì thú, bí ẩn hoặc bộc lộ một khát vọng sống .

1.2 - Phân loại :
- Tượng tròn : thể hiện trong không gian ba chiều , nghĩa là tồn tại giống như thật .
- Phù điêu : còn gọi là điêu khắc nổi , đắp nổi , tồn tại trong không gian hai chiều rưỡi .
- Tượng đài kỉ niệm : tượng tròn đặt cố định ở ngoài trời hay một nơi công cộng .
- Tượng trang trí : tượng tròn hoặc phù điêu gắn liền vào một công trình kiến trúc , có thể ở mặt trong hoặc ngoài công trình .

1.3 - Chất liệu :
Đá , gỗ , đồng , đất nung , xi măng , … và vật liệu tổng hợp . Ít khi tô màu (chỉ có một số tượng tôn giáo ưa tô màu , có lẽ nhằm phục vụ quần chung bình dân ) , phần lớn để nguyên màu sắc tự nhiên của chất liệu .

1.4 - Ngôn ngữ của tác phẩm điêu khắc :
- Khối
- Nét
- Mảng

Ba yếu tố này phối hợp với nhau tạo nên dáng điệu , tư thế sống động tự nhiên ( thử so sánh với chụp hình để phân biệt “ tự nhiên “ và “ bố trí sắp đặt" ) . Nhân vật của tác phẩm điêu khắc xuất hiện trong một bối cảnh lịch sử -xã hội nhất định ( thuộc về thời quá khứ ) được thể hiện trong tư thế “ đối thoại “ với công chúng - một cuộc đối thoại ngầm ! Ý nghĩa của tác phẩm chính là ở chỗ đó .

Thử tìm hiểu, phân tích một số tác phẩm điêu khắc như :

- Tượng phật trong các chùa , tượng thánh trong các đình thần , tượng chúa ở các nhà thờ công giáo .
- Tượng lãnh tụ , danh nhân : Thánh Gióng , Trần Hưng Đạo , Trần Nguyên Hãn … Hồ Chí Minh , Tôn Đức Thắng .
- Những tượng đài khác : tượng đài trang trí nhà Bưu điện Sài Gòn , nhà hát thành phố Hànội và thành phố HCM
- Tượng thần Vệ Nữ ( Venus ) , tượng thần Jupiter ở Hilạp . . .
Logged
nhà quê
Global Moderator
Sr. Member
*****
Posts: 201

Topic starter

View Profile
« Reply #2 on: September 13, 2007, 11:36:51 PM »

2 - HỘI HỌA sad.gif Fine Art )
2.1 - Khái niệm :
Nghệ thuật thể hiện trên một không gian hai chiều ( mặt phẳng ) .

Với hệ ngôn ngữ là: đường nét , sáng tối và màu sắc , ba yếu tố trên phối hợp với nhau tạo ra hòa sắc , nhịp điệu , tương phản trong các hình thái và kết cấu : tĩnh hoặc động.

Bức tranh - tác phẩm hội họa - giữ lại một khoảnh khắc của cuộc sống ( tạm đứng yên ) là nơi nghệ sĩ bộc lộ xúc cảm của mình , giúp khán giả nhìn rõ đối tượng và cảm nhận được tâm tình của tác giả .

2 .2 - Một số cách phân loại tác phẩm :
+ Phân loại theo vị trí :
- Bích họa (vẽ trên tường , hoành tráng ) , vẽ ngay lên các công trình kiến trúc , chất liệu bền như nước sơn , ghép đá, mảnh gốm,đống , bạc, vàng . Ví dụ : tranh thánh trên vách tường , vòm nhà thờ , đình chùa và những công trình công cộng khác với nhiều loại kích cỡ tùy ý .
- Hội họa giá vẽ - vẽ trên giấy , bìa , gỗ … có khung , nhìn chung kích cỡ nhỏ đủ để treo tường trong phòng .

+ Phân loại theo chất liệu :
- Tranh kí họa chì
- Tranh mực nho
- Tranh màu nước
- Tranh bột màu
- Tranh sơn dầu
- Tranh sơn mài ( trên gỗ )
- Tranh lụa . . .

+ Phân loại theo đối tượng / chủ đề :
- Tranh phong cảnh ( cảnh tự nhiên )
- Tranh tĩnh vật ( cảnh bố trí , sắp đặt)
- Tranh chân dung
- Tranh thờ
- Tranh cổ động
- Tranh affix , quảng cáo
- Tranh minh họa sách báo .v.v…

+ Phân loại theo phương thức sáng tác ( phương pháp sáng tác ) :
- Tranh cổ điển
- Tranh ấn tượng
- Tranh siêu thực
- Tranh hiện thực / tả thực
- Tranh tượng trưng
- Tranh biểu tượng
- Tranh dân gian ..…

Giới nghiên cứu điêu khắc và hội họa ( mĩ thuật ) đi tiên phong trong việc nghiên cứu nghệ thuật học , họ có công hình thành những thuật ngữ cơ bản như “ hình tượng” , “ khắc họa “ nhân vật , “chiếu sáng” , “tương phản” sáng tối , bôi đen, tô hồng , phóng đại, thu nhỏ , nhân vật trung tâm ( ở giữa bức tranh ) .
Logged
nhà quê
Global Moderator
Sr. Member
*****
Posts: 201

Topic starter

View Profile
« Reply #3 on: September 13, 2007, 11:37:06 PM »

3 - ÂM NHẠC :(Music)
3.1. Khái niệm
Nghệ thuật của âm điệu, giai điệu, nhịp điệu và âm sắc tạo nên bởi giọng nói con người ( thanh nhạc ) và / hoặc phát ra từ một công cụ đặc biệt ( nhạc cụ , khí nhạc ) - những nhạc cụ này tạo ra âm thanh khá phù hợp với giọng người . Aâm nhạc thể hiện cảm xúc , tình cảm, trực tiếp của con người , từ những tâm trạng tinh tế sâu kín đến những tư tưởng xã hội cao cả , đồng thời có khả năng miêu tả hiện thực sinh động của thế giới.

Âm nhạc cũng co khả năng kích thích trí tưởng tượng phong phú của con người

Tóm lại , hình tượng âm nhạc vừa mang tính trực tiếp cụ thể vừa mang tính gián tiếp trừu tượng.

Hình tượng âm nhạc có độ dài thời gian, liên tục, tác động nhanh , mạnh đến tinh thần con người theo hai hướng đối lập: hào hứng sôi sục hoặc trấn tĩnh , dịu lại đến mức u trầm .

Âm nhạc có thể là tiếng nói tâm tình của một con người (Chị Tôi, Chiều một mình qua phố, Tôi đưa em sang sông . . . ) và có thể là bản đồng thanh của một tập đoàn người , hơn nữa , của cả cộng đồng ( Quốc ca , Nối vòng tay lớn , Cùng nhau đi hồng binh , Hành khúc Đội thiếu niên tiền phong …).

3.2. Phân loại :
+ Thanh nhạc
- đơn ca, song ca, tốp ca, đồng ca/ hợp xướng
- Ca kịch
- Nhạc kịch ( Opera )
- Pop , Rock ' in Roll

+ Khí nhạc
- Độc tấu nhạc cụ
- Hòa tấu ( thính phòng , giao hưởng )
Hoặc : prelude, concerto, overture , sonatte, symphonie

Một cách phân loại khác : Nhạc nhẹ ( đơn giản ) và nhạc cổ điển ( phong phú hơn ) , nhạc đồng quê , nhạc cung đình , nhạc nghi lễ. . .
Logged
nhà quê
Global Moderator
Sr. Member
*****
Posts: 201

Topic starter

View Profile
« Reply #4 on: September 13, 2007, 11:37:23 PM »

4 - MÚA: (dancing )
Là một nghệ thuật âm nhạc - tạo hình dùng ngôn ngữ đặc biệt là cơ thể con người vận động theo cùng âm nhạc.

Nói cách khác, múa là nghệ thuật điêu khắc bằng chất liệu con người , song song tồn tại với bản nhạc .

Phân loại:
- Múa dân gian
- Múa cung đình
- Múa giải trí ( khiêu vũ )
- Múa nghi lễ tôn giáo
- Kịch múa ( vũ kịch / ballet )
Có thể phân loại cách khác : múa đơn , múa đôi , múa tập thể

Ở phương Tây , múa đặc biệt phát triển và có truyền thống từ lâu đời . Có một hình thức nhảy múa giải trí , sinh hoạt rất phổ biến gọi là “ vũ quốc tế “ , đang lan sang nước ta , từ đầu thế kỉ 20 nhưng đến nay vẫn còn thu hẹp ở những thành phố lớn . Vũ quốc tế chủ yếu gồm 2 nhóm : vũ cổ điển ( vốn của giới quí tộc Châu Âu sáng tác và sinh hoạt thế kỉ 18,19 ) và vũ hiện đại ( sáng tạo từ thế kỉ 20 gồm cả châu Âu và Châu Mĩ Latinh ) .
Logged
nhà quê
Global Moderator
Sr. Member
*****
Posts: 201

Topic starter

View Profile
« Reply #5 on: September 13, 2007, 11:37:43 PM »

5 - SÂN KHẤU Drama )
Là một nghệ thuật phức hợp , cần tách ra hai thành phần để nghiên cứu :
- Kịch bản văn học , kịch bản âm nhạc
- Nghệ thuật sân khấu : diễn viên , điêu khắc -hội họa ( dựng cảnh , hóa trang , phục trang ) , ánh sáng , âm nhạc minh họa , âm thanh tiếng động , kĩ thuật khác .
Ở đây, chúng ta chỉ chú ý phần kịch bản văn học của thể loại kịch nói .

Kịch xuất hiện sớm nhất có lẽ ở Hi Lạp thời cổ đại - khoảng thế kỉ 5 trước Công nguyên .Theo nhà mĩ học Aristote (384 - 322 trước C.N) viết trong cuốn Thi pháp ( Poetics ) , một vở kịch có 6 thành phần cơ bản .

Cốt truyện 2. Tính cách 3. Lời thoại (đài từ ) 4. Ca khúc của dàn đồng ca 5. Trang trí 6. Tư tưởng

Cốt truyện có ba phần chính :
- Thắt nút
- Cao trào
- Mở nút

Vở kịch bảo đảm theo công thức / qui tắc “ tam nhất “ :
- một hành động chính ( hành động xuyên )
- một không gian ( một địa điểm xảy ra câu chuyện )
- một ngày ( câu chuyện kịch xảy ra không quá một ngày )

Phân loại : tạm đưa ra ba cách phân loại kịch :
A - Phân loại theo hình thức :
- Kịch hát dân tộc ( kịch dân ca )
- kịch thơ
- kịch nói ( drama )
- kịch múa ( ballet )
- kịch hát ( opera )
- kịch câm ( pantomime)
- kịch rối / múa rối

B - Phân loại theo cảm hứng chủ đạo :
- Bi kịch
- Hài kịch
- Chính kịch

C - Kịch hiện đại với nhiều biến đổi , thể nghiệm chưa thể phân loại ổn định .
Logged
nhà quê
Global Moderator
Sr. Member
*****
Posts: 201

Topic starter

View Profile
« Reply #6 on: September 13, 2007, 11:38:03 PM »

7 - VĂN HỌC: ( Literature )
Không phải là nghệ thuật thứ bảy, mục văn học được đặt ở đây nhằm mục đích nói lên tính chất tổng hợp , đa dạng , phong phú nhất của một loại hình nghệ thuật đặc biệt , cũng là bộ môn nghiên cứu của khoa Ngữ văn .

Thực ra , văn học có thể xếp ở vị trí ra đời sau “ múa “ , trước “ kịch “ , khi con người đã tạo cho mình một ngôn ngữ khá ổn định và tinh vi .

7.1 - Khái niệm chung :
Văn có hai cách :

- Văn chương : văn nghệ thuật
- Văn học : là khoa học nghiên cứu văn chương
( Tùy theo từng chỗ từng lúc mà dùng văn học hoặc văn chương cho thích hợp )

Trong thực tế người ta quen dùng văn học như văn chương , chưa phân biệt rõ .

Văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ , ai cũng sáng tạo và sử dụng suốt cuộc đời . Hai thứ văn sinh hoạt giao tiếp và văn nghệ thuật pha trộn xen kẽ trong sự tồn tại của con người

Văn có mặt trong mọi loại hình nghệ thuật bằng lời văn trực tiếp ( lời ca / ca từ , lời thoại) hoặc chất văn ngầm ( trong pho tượng , bức tranh , điệu múa…) .

Một tác phẩm văn chương cũng chứa đựng mọi khả năng thể hiện của các nghệ thuật khác .

Trước hết , văn là nghệ thuật của ngôn ngữ dân tộc . Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu gián tiếp tái hiện và biểu hiện con người và cuộc sống . Khi đọc / nghe lời văn , người ta phải tự mình tái hiện , tưởng tượng cái nội dung của nó .

7.2 -Phân loại :
- Thơ ( thơ trữ tình , thơ sử thi)
- Văn xuôi ( truyện , kí , nghị luận )
- Kịch ( kịch thơ, kịch hát , kịch nói )

7.3 - Quan niệm văn học của phương Đông :
Văn học bao gồm 5 phạm trù :Văn - Đạo - Tâm - Chí - Mĩ .

Chúng ta hãy xét từng phạm trù .

ĐẠO :
Khái niệm triết học cổ phương Đông , do Lão Tử nêu lên . Đạo là nguyên lí tối cao bao quát thế giới , đạo không sinh không diệt, không tăng không giảm , khó nắm bắt .

Đạo gồm 2 thể : Vô và Hữu

Con người chỉ việc sống theo tự nhiên

Khổng Tử giảng : Đạo là lẽ trời , qui định quan hệ xã hội ( quan niệm hẹp hơn Lão Tử ) . Đạo gồm 5 chữ : Nhân , nghĩa, lễ , trí , tín

Đạo được coi trọng hàng đầu trong văn chương phương Đông và Việt Nam :

“ Văn dĩ tải đạo “ ( văn thì chở đạo - chở : hơi thụ động ! )

“ Văn dĩ minh đạo “ ( văn làm sáng đạo )

Lại có quan niệm đối lập : “ Tác văn hại đạo “

Sâu xa , biện chứng hơn , nhưng coi nhẹ tính độc lập của văn là câu :

“ Đạo là gốc , văn là cành lá “

“ Văn dĩ quán đạo “ , “ Văn dĩ hoàng đạo “ (Tô Đông Pha )

Lê Quí Đôn nhận xét độc đáo : “ Văn trời , văn đất , văn người “ , tức là văn rộng hơn ngôn ngữ con người ( Thiên Địa Nhân Văn )

Đồ Chiểu : “ chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

đâm mấy thằng gian bút chẳng tà “

Vậy Đạo là qui luật khách quan bao gồm cả qui luật chủ quan , do cái Tâm giữ vai trò điều phối , sao cho hài hòa tam tài Thiên - Địa - Nhân .

TÂM VÀ CHÍ :
Tâm là thiện , lành , tận thiện , tâm cần sáng ( minh tâm ). Tâm là đức hạnh - cái phẩm chất căn bản của văn .

Tâm thăng trầm khi tốt khi xấu ( khi sáng khi tối ) , nên phải giữ gìn.

Khi tâm phát khởi một ý muốn nung nấu thành hành động -gọi là CHÍ . Chí gắn với sự lập thân và mục đích lí tưởng sống , dù là lí tưởng sống nhàn dật (!) .

Người có tâm chí ưa phát lộ lời văn , có người mắc chứng kiêu bạc , khinh mạn thế nhân , “ mục hạ vô nhân ) .Vậy cần giữ tâm hồn bình đạm , ung dung , lời nói cốt đạt ý. Học vấn uyên bác thì lời nói giản dị và hay .

Thơ là để nói chí “ Thi ngôn chí “ .

Nguyễn Trãi viết trong “ Hạ qui Lam Sơn “ :

“ Nhớ khi xưa Lam Sơn xem sách võ kinh ,

Bấy giờ chí đã ở dân đen rồi “

Chí có 2 phương diện :
- Đại chí : hướng ngoại , xã hội , thế giới
- Tiểu chí : cách sống riêng với tấm lòng bên trong , còn gọi là “ chí bình sinh “ .
Đó là cách phân chia tương đối , thực ra “ Chí “ bao hàm cả xã hội và cái riêng , khó tách biệt thành” đại” và “tiểu” như trên .



“ Văn thơ là sắc đẹp ngoài mọi sắc đẹp , vị ngon ngoài cả vị ngon , không thể dùng mắt , miệng tầm thường mà biết được “ ( Hoàng Đức Lương -đậu hoàng giáp thời Hồng Đức , 1468 ).

Phan Huy Chú , Lê Quí Đôn đều coi Mĩ là tiêu chí cơ bản để đánh giá văn chương .

Mĩ là sự hòa quyện “ tâm pháp “ và “ ngôn pháp “ tạo ra sự huyền diệu lung linh.

Đỗ Phủ viết :

Làm người tính thích câu văn đẹp

Đọc chẳng kinh người , chết chửa nguôi

Khổng Tử dạy “ lời không văn vẻ thì không đi được xa “. Văn vẻ chính là cái Mĩ vậy VĂN

Tổng hợp các tố chất Đạo ,Tâm , Chí - Mĩ trong một ngôn từ nghệ thuật ấy là Văn .

Nói như Lê Quí Đôn trong sách Vân Đài loại ngữ về bản chất của văn học , ta có thể kết luận chung : “ Hòa thuận chứa ở trong , anh hoa phát ra ngoài , đặt đường kinh đường vĩ cho trời đất , đó là đại văn chương “ .
Logged
nhà quê
Global Moderator
Sr. Member
*****
Posts: 201

Topic starter

View Profile
« Reply #7 on: September 13, 2007, 11:38:20 PM »

8. BẢY LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT cũng có thể chia ra thành 2 loại:
1.Loại hình nghệ thuật không gian :
Tác phẩm nghệ thuật tồn tại với một không gian nhất định và phi thời gian . Đối tượng được thể hiện trong tác phẩm dường như “ đứng yên “ không vận động theo thời gian . Đó là điêu khắc , hội họa và nhiếp ảnh ( tượng , tranh và ảnh ).

Trong loại hình này , tác giả có quan niệm riêng về không gian , gọi là “ không gian nghệ thuật “ . Mỗi nghệ sĩ ưa thích một không gian nào đó và miêu tả nó phù hợp cách nhìn của mình .

2.Loại hình nghệ thuật thời gian :
Tác phẩm nghệ thuật được diễn ra trong một thời gian nhất định , có vẻ sinh động như thực tế . Đó là Âm nhạc , múa , văn chương , kịch và phim truyện .

Tác phẩm văn chương bao gồm cả không gian và thời gian nhưng thiên về thời gian .

( nội dung vận động , nhân quả , có đầu có cuối ) . Ví dụ : nhà thơ Đỗ Phủ , Lí Bạch thời trẻ thích làm thơ về núi cao để tỏ chí lớn . Bà Huyện Thanh Quan ưa chọn nơi vắng vẻ , điêu tàn để tâm sự , ngay cả khi đứng giữa chốn đô thị náo nhiệt nhưng bà chỉ tả “ lối xưa xe ngựa hồn thu thảo … “.

“Thời gian nghệ thuật”, cũng như “ không gian nghệ thuật “ đều là sự sáng tạo của nghệ sĩ , nó khác với thời gian , không gian vũ trụ , khách quan ( vũ : không gian , trụ : thời gian ) .Ví dụ : thời gian nghệ thuật rất khác nhau trong các tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa ( La Quán Trung ), Hồng Lâu Mộng ( Tào Tuyết Cần ), Gặp gỡ cuối năm ( Nguyễn Khải ) …

(hết)
(Nguồn: http://www.agu.edu.vn/courseware/index.asp...1&mid=1&pid=12)
Logged
Pages: [1]
Print
Jump to:  

(c) VietEconomics.Net